Trong quyết định đầu tư, mỗi nhà đầu tư
có những quy tắc giao dịch riêng, một quy tắc đầu tư mà họ tin rằng có thể đem
lại mức TSSL cao trên TTCK. Giá cổ phiếu vô cùng nhạy cảm với thông tin, đó có
thể là thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, về các đợt mua bán,
sáp nhập, hay những thông tin vĩ mô về nền kinh tế. Mỗi nhà đầu tư tiếp nhận một
khối lượng thông tin không giống nhau, phương pháp phân tích thông tin và hành
động của mỗi nhà đầu tư cũng khác biệt nhau. Do đó, có vô số các quy tắc giao dịch
trên thị trường và mỗi nhà đầu tư đều có một chiến lược riêng cho mình.
Quy
tắc giao dịch được định
nghĩa trong bài nghiên cứu là phương pháp giao dịch không đổi trong một thời
gian nhất định, dựa trên cơ sở là các giá trị tới ngưỡng của các chỉ báo của một
công cụ phân tích nhất định.
Bài nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp
thuật toán di truyền, sử dụng các dữ liệu quá khứ về giá cổ phiếu để tìm ra các
quy tắc giao dịch với dạng tổng quát sau:
NẾU chỉ báo thứ nhất LỚN HƠN HOẶC BẰNG (NHỎ HƠN) X1
VÀ
chỉ báo thứ hai LỚN HƠN HOẶC BẰNG (NHỎ
HƠN) X2
VÀ chỉ
báo thứ ba LỚN HƠN HOẶC BẰNG (NHỎ HƠN) X3
VÀ
chỉ báo thứ tư LỚN HƠN HOẶC BẰNG (NHỎ
HƠN) X4
VÀ
chỉ báo thứ năm LỚN HƠN HOẶC BẰNG (NHỎ
HƠN) X5
THÌ mua, NẾU KHÔNG THÌ bán
Trong phần tiếp theo của chương 3, bài
nghiên cứu sẽ tiếp cận cụ thể hơn về các quy tắc giao dịch theo phương pháp thuật
toán di truyền và một số phương pháp khác.
Quy tắc giao dịch với thuật toán di
truyền
Như đã trình bày, trong bài nghiên cứu
sẽ sử dụng thuật toán di truyền với các biến số đầu vào là những chỉ số phân
tích kỹ thuật. Cụ thể, thuật toán di truyền sẽ được sử dụng để tìm ra các giá
trị ngưỡng cho các quy tắc giao dịch như đã được trình bày ở phần 3.1. Các chỉ
số PTKT được sử dụng đó là các chỉ số dao động: CCI, OSCP, RSI, %D và ROC. Sở
dĩ trong bài nghiên cứu sử dụng các chỉ số trên là do kinh nghiệm từ các bài
nghiên cứu trước đó của các tác giả nước ngoài như Kyung-shik Shin, Kyoung-jae
Kim và Ingoo Han. Cách tích các chỉ số phân tích kỹ thuật được trình bày ở bảng
dưới đây:
Phương
pháp tính toán một số chỉ số PTKT
Trong
đó:
C là giá đóng cửa, H là giá cao nhất, L
là giá thấp nhất
MA: là đường trung bình di động của giá
Cách tính các chỉ số phụ thuộc vào số
ngày được chọn để tính toán. Trong bài nghiên cứu sẽ sử dụng các chỉ số %K 14
ngày, %D là trung bình 3 kỳ của %K, CCI 14 ngày, RSI 14 ngày và ROC 20 ngày.
Trong quá trình chạy thuật toán di truyền,
nguyên tắc cơ bản là tìm kiếm và thay thế các giá trị tối ưu. Kinh nghiệm chạy
thuật toán trên phần mềm Evolver 5.7
cho thấy khi chạy thuật toán với các biến PTKT gốc, thuật toán sẽ không mang lại
hiệu quả vì miền giá trị của các biến là khá rộng và không giống nhau. Kết quả
bài toán thường chỉ xét tới tối ưu với một số biến nhất định và kết quả tối ưu
hóa là chưa thuyết phục. Để khắc phục tình trạng này, bài nghiên cứu sẽ chuẩn
hóa các biến đầu vào như sau:
Với những biến chuẩn hóa, bài nghiên cứu
sẽ sử dụng phần mềm Evolver 5.7 chạy trên nền Excel và sử dụng một marco VBA để
định nghĩa các quy tắc giao dịch. Quá trình tối ưu hóa gồm các bước sau đây:
Bước
1: Chuẩn hóa các biến PTKT.
Bước
2: Sử dụng giá trị các biến PTKT
của ngày trước đó. Tìm điều kiện và giá trị tới ngưỡng của các chỉ số PTKT chuẩn
hóa để tối đa hóa TSSL trong một giai đoạn cần tối ưu nhất định, giai đoạn này
gọi là training period.
Bước
3: Sử dụng các kết quả tìm được
trong thời gian training đầu tư trong một khoảng thời gian tiếp theo, khoảng thời
gian này gọi là test period.
Bước
4: Xác định TSSL khi sử dụng kết
quả của thuật toán di truyền trong khoảng thời gian đầu tư ngoài mẫu. Đánh giá
kết quả.
Kết quả của quá trình tối ưu hóa trong
giai đoạn training đó là các quy tắc giao dịch có dạng tổng quát như trong phần
3.1. Trong bài nghiên cứu, để đơn giản hơn về thuật toán và cấu trúc các câu lệnh,
cũng như để thể hiện bản chất của vấn đề, bài nghiên cứu đưa ra một số giả định
như sau:
1/ Không có chi phí giao dịch.
2/ Thời gian giao dịch là T + 0.
3/ TSSL chỉ xét đến phần lãi vốn, không
xét đến cổ tức trong quá trình nắm giữ cổ phiếu.
Bài nghiên cứu sẽ sử dụng các code VBA
trong Excel (code VBA sẽ được trình bày ở phần phụ lục), cách thiết kế các quy
tắc giao dịch và phương pháp mã hóa dữ liệu sẽ được trình bày ở bảng dưới đây:
Cấu
trúc tổng quát của quy tắc giao dịch
THÌ mua,
NẾU KHÔNG THÌ bán.
Các
thử nghiệm và dữ liệu nghiên cứu
Các nghiên cứu về thuật toán di truyền
với các biến đầu vào là chỉ số PTKT của các tác giả nước ngoài như Flanklin
Allen và Risto Karjalainen – Đại học Wharton (1995) với chỉ số S&P 500,
nghiên cứu Kyung-shik Shin, Kyoung-jae Kim và Ingoo Han với chỉ số KOSPI200,
nghiên cứu của Jin Li và Edward P.K. Tsang về chỉ số Dow Jones hay các nghiên cứu
của Longbing Cao, Chao Luo, Jiarui Ni,
Dan Luo, Chengqi Zhang về các chứng khoán trên TTCK Australia (ASX) đã cho thấy
thuật toán di truyền mang lại một TSSL vượt trội so với TSSL thu được từ các
phương pháp khác.
Với mục đích
thử nghiệm thuật toán di truyền trên TTCK Việt Nam, bài nghiên cứu xây dựng mô
hình thuật toán di truyền với cả chỉ số tổng hợp VN-index và một số chứng khoán
cụ thể. Những thử nghiệm được thiết kế cụ thể như sau:
Thử nghiệm với chỉ số VN-index
Đối với chỉ số VN-index, thử nghiệm sẽ
được thiết kế như sau:
Bảng
3.3 Thời gian thử nghiệm GAs với VN-index
|
VN-index
|
|
|
Training
Period
|
Test
Period
|
|
01/10/2010-30/09/2011
n = 249 ngày
|
03/10/2011-30/11/2011
n = 43 ngày
|
Quy tắc giao dịch tối ưu tìm được trong
thời gian training (249 ngày) sẽ được sử dụng để đầu tư trong 2 tháng tiếp theo
(43 ngày). Căn cứ để chọn mốc thời gian 2 tháng tiếp theo là do PTKT có khuynh
hướng là một công cụ phân tích trong ngắn hạn, vì lẽ đó, thuật toán di truyền với
các biến số là chỉ số PTKT được chuẩn hóa cũng được áp dụng trong ngắn hạn. Mặt
khác, với thời gian quá ngắn, các kết quả đầu tư có thể sẽ không chính xác. Bài
nghiên cứu sẽ lựa chọn test period với thời gian là 2 tháng cho cả VN-index và
các các chứng khoán riêng lẻ được khảo sát.
Để làm nổi bật sự vượt trội của GAs, kết
quả TSSL của thuật toán di truyền với VN-index sẽ được so sánh với TSSL từ các
phương pháp sau:
§ Mô
hình GARCH(p,q)
GARCH là một trong những phương
pháp phổ biến nhất được sử dụng để dự báo TSSL của cổ phiếu. Mô hình GARCH(p,q)
có dạng tổng quát:
Nguồn dữ liệu chứng khoán của Vn-Index
được quan sát bắt đầu từ giai đoạn 01/10/2003 đến 30/09/2011. Nguồn dữ liệu này
sẽ được sử dụng để dự báo TSSL trong khoảng thời gian 2 tháng
03/10/2011-30/11/2011 để so sánh TSSL với phương pháp thuật toán di truyền.
Trong thời gian đó, mô hình GARCH liên tục được ước lượng lại để cập nhật dữ liệu.
Tín hiệu mua, bán của GARCH được xác định như sau:
Quy
tắc giao dịch với GARCH
Trong bài nghiên cứu, do giả định không
có chi phí giao dịch nên
được lấy bằng 0, với hàm ý, nhà đầu tư sẽ mua vào khi
có tín hiệu dương về TSSL và bán ra khi có tín hiệu âm về TSSL.
§ Lý
thuyết bước đi ngẫu nhiên – Random Walk
Thuật ngữ bước đi
ngẫu nhiên – radom walk được giới thiệu lần đầu tiên bởi Karl Pearson vào năm
1905. Random walk được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: sinh thái
học, kinh tế học, tâm lý học, khoa học máy tính, vật lý và hóa học.
Theo lý thuyết bước đi ngẫu
nhiên, sự thay đổi trong giá Pt – Pt-1 được giả định là một
bước ngẫu nhiên. Xét trong dài hạn, Pt – Pt-1 là bước ngẫu
nhiên phân phối theo hàm phân phối chuẩn Gauss, tuy nhiên trong ngắn hạn, Pt
– Pt-1 là bước ngẫu nhiên có giới hạn (giới hạn bởi sự biên độ dao động
tối đa của VN-index) và không tuân theo quy luật phân phối chuẩn (theo luật số
lớn). Để tạo một chuỗi ngẫu nhiên, bài nghiên cứu sử dụng code trong C++, chi tiết
về việc thực hiện sẽ được trình bày ở phần phụ lục.
Trong thử nghiệm này, chỉ số
VN-index cũng tương tự như giá của một cổ phiếu cụ thể. TSSL sẽ được xác định
trên giá đó. Khảo sát ban đầu về ứng dụng của thuật toán di truyền với chỉ số
VN-index là cơ sở để mở rộng thử nghiệm với các cổ phiếu cụ thể trên thị trường.
Thử
nghiệm với các cổ phiếu cụ thể
Để chứng minh một cách cụ thể hơn hiệu
quả của thuật toán di truyền, bài nghiên cứu sẽ sử dụng GAs với các cổ phiếu cụ
thể. Với một số lượng lớn các cổ phiếu, việc ước lượng mô hình GARCH và tạo chuỗi
ngẫu nhiên cho tất cả các cổ phiếu là một khối lượng công việc quá lớn. Trong
thử nghiệm này, kết quả của thuật toán di truyền được so sánh với TSSL của
phương pháp nắm giữ cổ phiếu trong cùng khoảng thời gian. Để tăng tính khách
quan và khoa học, bài nghiên cứu sẽ thử nghiệm mỗi cổ phiếu ở 4 giai đoạn khác
nhau.
Các
giai đoạn thử nghiệm với các cổ phiếu cụ thể
|
Giai
đoạn
|
Training
Period
|
Test
Period
|
|
1
|
04/01/2010-31/12/2010
n = 250 ngày
|
04/01/2011-28/02/2011
n = 34 ngày
|
|
2
|
01/04/2010-31/03/2011
n = 249 ngày
|
01/04/2011-31/05/2011
n = 39 ngày
|
|
3
|
01/07/2010-30/06/2011
n = 247 ngày
|
01/07/2011-31/08/2011
n = 45 ngày
|
|
4
|
01/10/2010-30/09/2011
n = 249 ngày
|
03/10/2011-30/11/2011
n = 43 ngày
|
Danh
sách các cổ phiếu thử nghiệm
|
Mã cổ
phiếu
|
Tên công ty cổ phần niêm yết
|
|
VIC
|
Công ty
cổ phần Vincom
|
|
FPT
|
Công ty
cổ phần FPT
|
|
VNM
|
Công ty
cổ phần sữa Việt Nam -Vinamilk
|
|
MSN
|
Công ty
cổ phần tập đoàn MaSan
|
|
BVH
|
Tập
đoàn Bảo Việt
|
|
PNJ
|
Công ty
cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận
|
|
PVD
|
Tổng
công ty cổ phần khoan và dịch vụ khoan dầu khí
|
|
KDC
|
Công ty
cổ phần Kinh Đô
|
Kết quả nghiên cứu
Kết quả với chỉ số
VN-index
Quy tắc giao dịch tìm
được với thuật toán di truyền
Với phương pháp nghiên cứu đã trình bày
trong phần 3, chạy tối ưu hóa thuật toán di truyền bằng phần mềm Evolver 5.7
trên nền Excel, số lần mô phỏng là 2000 lần, cho chúng ta quy tắc giao dịch tối
ưu như sau:
THÌ mua,
NẾU KHÔNG THÌ
bán
Trong giai đoạn thực hiện đầu tư kiểm
tra ngoài mẫu, quy tắc giao dịch như trên đạt mức TSSL là -2.95 %, số ngày nắm
giữ cổ phiếu là n = 3 ngày. Đây là mức TSSL âm nhưng chấp nhận được nếu chúng
ta biết rằng, trong suốt giai đoạn này, với 43 ngày giao dịch, chỉ có 7 phiên
là VN-index tăng điểm và VN-index trong thời gian này đã giảm tới 9.81% từ mốc
(422.1 xuống chỉ còn 380.7).
Tổng hợp kết quả nghiên cứu với chỉ số
VN-index
TSSL VN-index:
-9.81%. n là số ngày nắm giữ cổ phiếu.
Kết quả tối ưu hóa
trong mẫu (training) của các cổ phiếu
Kết quả nghiên cứu
với các cổ phiếu
|
GIAI ĐOẠN 1 - (%)
|
||||||||
|
CỔ PHIẾU
|
VIC
|
FPT
|
VNM
|
MSN
|
BVH
|
PNJ
|
PVD
|
KDC
|
|
TSSL
|
76.57
|
5.54
|
15.54
|
108.91
|
122.81
|
-9.04
|
-24.82
|
5.66
|
|
GAs
|
78.14
|
19.25
|
33.29
|
174.42
|
105.62
|
38.42
|
9.53
|
13.57
|
|
GIAI ĐOẠN 2 – (%)
|
||||||||
|
CỔ PHIẾU
|
VIC
|
FPT
|
VNM
|
MSN
|
BVH
|
PNJ
|
PVD
|
KDC
|
|
TSSL
|
153.63
|
-19.41
|
12.27
|
121.62
|
88.21
|
-23.03
|
-10.57
|
-12.93
|
|
GAs
|
97.05
|
18.16
|
35.65
|
68.12
|
78.97
|
28.58
|
20.38
|
14.33
|
|
GIAI ĐOẠN 3 – (%)
|
||||||||
|
CỔ PHIẾU
|
VIC
|
FPT
|
VNM
|
MSN
|
BVH
|
PNJ
|
PVD
|
KDC
|
|
TSSL
|
102.96
|
-30.47
|
24.22
|
90.20
|
86.46
|
-22.80
|
-17.02
|
-24.95
|
|
GAs
|
137.53
|
16.50
|
70.63
|
86.30
|
99.39
|
21.46
|
19.60
|
15.66
|
|
GIAI ĐOẠN 4 – (%)
|
||||||||
|
CỔ PHIẾU
|
VIC
|
FPT
|
VNM
|
MSN
|
BVH
|
PNJ
|
PVD
|
KDC
|
|
TSSL
|
68.10
|
-26.62
|
45.51
|
131.37
|
20.75
|
32.44
|
-8.98
|
-31.87
|
|
GAs
|
131.27
|
13.06
|
69.49
|
139.73
|
96.98
|
82.95
|
49.18
|
31.24
|
Một
số nhận định về kết quả nghiên cứu
Những quy tắc giao dịch tìm được bằng
phương pháp chạy thuật toán di truyền bằng phần mềm Evolver 5.7 với các biến
đầu vào là các chỉ số phân tích kỹ thuật đã được chuẩn hóa, với thời gian
training là 1 năm, sau đó được sử dụng để đầu tư trong 2 tháng tiếp theo qua
các giai đoạn thử nghiệm khác nhau. Kết quả của những thử nghiệm này đã được
trình bày chi tiết trong phần 4.1 của đề tài. So sánh TSSL kiếm được từ phương
pháp thuật toán di truyền với TSSL của cổ phiếu trong cùng thời kì nghiên cứu,
chúng ta có thể đưa ra một số kết luận như sau:
Phương
pháp thuật toán di truyền là một công cụ tiềm năng
Tổng
hợp tỷ suất sinh lời của cổ phiếu qua các giai đoạn
|
GIAI ĐOẠN
|
VIC
|
FPT
|
VNM
|
MSN
|
BVH
|
PNJ
|
PVD
|
KDC
|
|
|
1
|
TSSL GAs
|
10.46
|
0
|
11.17
|
14.72
|
58.1
|
1.59
|
2.74
|
0
|
|
TSSL CP
|
9.56
|
16.69
|
3.19
|
10.67
|
11.02
|
7.05
|
-4.72
|
-2.89
|
|
|
2
|
TSSL GAs
|
-2.23
|
0
|
4.26
|
23.06
|
9.62
|
-0.78
|
0.87
|
0
|
|
TSSL CP
|
-15.26
|
-10.32
|
11.26
|
23.17
|
10.22
|
-17.72
|
-5.81
|
-14.85
|
|
|
3
|
TSSL GAs
|
0.49
|
7.02
|
9.25
|
10.31
|
0
|
3.81
|
3.47
|
8.6
|
|
TSSL CP
|
-13.86
|
15.96
|
15.74
|
10.31
|
-26.11
|
15.74
|
1.27
|
6.2
|
|
|
4
|
TSSL GAs
|
-2.74
|
0
|
11.58
|
1.69
|
-0.78
|
-0.28
|
1.52
|
0
|
|
TSSL CP
|
-14.36
|
-3.73
|
8.41
|
0.58
|
-8.59
|
-12.88
|
-3.47
|
-12.28
|
|
|
TB
|
TSSL GAs
|
1.495
|
1.755
|
9.07
|
12.445
|
16.735
|
1.085
|
2.15
|
2.15
|
|
TSSL CP
|
-8.48
|
-3.69
|
9.65
|
11.18
|
-3.37
|
-1.95
|
-3.18
|
-5.96
|
|
Nguồn:
Tác giả tổng hợp từ kết quả của phần mềm Evolver 5.7
Từ bảng kết quả tổng hợp ở bảng trên
cho ta thấy phương pháp thuật toán di truyền là một phương pháp đầy triển vọng,
có khả năng áp dụng vào thực tế và mang lại một tỷ suất sinh lợi khá cao so với
tỷ suất sinh lợi của phương pháp mua – nắm giữ cổ phiếu trong cùng thời gian.
Năm 2011, thị trường chứng khoán Việt
Nam liên tục lao dốc, chỉ số VN-index giảm từ mốc 486 điểm (04/01/2011) xuống
chỉ còn 351.6 điểm (30/12/2011). Theo xu hướng chung của thị trường, đa số các
cổ phiếu trong nhóm các cổ phiếu trong nhóm cổ phiếu được khảo sát trong bài
nghiên cứu cũng chịu sự sụt giảm (riêng chỉ có cổ phiếu VNM và MSN là các cổ
phiếu có TSSL trung bình dương qua các giai đoạn nghiên cứu). Trong sự sụt giảm
chung đó, áp dụng phương pháp thuật toán di truyền mang lại hiệu quả khá cao.
Cụ thể, khi áp dụng thuật toán di truyền để đầu tư, các cổ phiếu đều mang lại
một TSSL trung bình dương và cao hơn, chỉ duy nhất trường hợp của VNM, GAs có
TSSL thấp hơn TSSL của cổ phiếu, tuy nhiên chênh lệch này là không đáng kể
(9.07% so với 9.65%). TSSL trong bài nghiên cứu được tính là TSSL trước chi phí
giao dịch, do đó trên thực thế TSSL có thể thấp hơn chút ít, theo tính toán
bằng Excel, chênh lệch này là từ 0.06 – 0.14 %. Trong gam màu tối của TTCK năm
2011, TSSL như trên thực sự đáng ghi nhận.
Tỷ suất sinh lợi trung bình của GAs và cổ
phiếu qua các giai đoạn
Với cùng một mức TSSL, thuật toán di
truyền có thể cho nhiều kết quả khác nhau về giá trị tới hạn của các chỉ số
phân tích kĩ thuật chuẩn hóa. Khoảng thời gian được chọn để làm giai đoạn
training cũng ảnh hưởng đến kết quả của GAs. Bài nghiên cứu chọn khoảng thời
gian training là 1 năm và thời gian kiểm định là 2 tháng tiếp theo, cũng như
các chỉ số PTKT như trên là do kinh nghiệm từ những bài nghiên cứu trước đó của
các tác giả nước ngoài. Việc chọn khoảng thời gian phân tích và lựa chọn giá
trị tới hạn thế nào là phù hợp nhất cho từng cổ phiếu trên TTCK Việt Nam vẫn là
một câu hỏi khó, cần thời gian nghiên cứu lâu dài, phải được đầu tư một nền
tảng công nghê thông tin ở mức độ cao và bài bản, chắc chắn trong phạm vi của
đề tài chưa thể trả lời được. Khi giải quyết được những vấn đề đó, GAs sẽ thực
sự phát huy được hết hiệu quả của mình và sẽ là một công cụ đáng tin cậy hơn
nữa cho các nhà đầu tư.
Kết
quả thuật toán di truyền trong trường hợp cổ phiếu giảm
|
GIAI
ĐOẠN
|
MÃ CP
|
GAs
(%)
|
TSSL
CP (%)
|
GIAI
ĐOẠN
|
MÃ CP
|
GAs
(%)
|
TSSL
CP (%)
|
|
1
|
FPT
|
0
|
-16.69
|
3
|
VIC
|
0.49
|
-13.86
|
|
PVD
|
2.74
|
-4.72
|
BVH
|
0
|
-26.11
|
||
|
KDC
|
0
|
-2.89
|
4
|
VIC
|
-2.74
|
-14.36
|
|
|
2
|
VIC
|
-2.23
|
-15.26
|
FPT
|
0
|
-3.73
|
|
|
FPT
|
0
|
-10.32
|
BVH
|
-0.78
|
-8.59
|
||
|
PNJ
|
-0.78
|
-17.72
|
PNJ
|
-0.28
|
-12.88
|
||
|
PVD
|
0.87
|
-5.81
|
PVD
|
1.52
|
-3.47
|
||
|
KDC
|
0
|
-14.85
|
KDC
|
0
|
-12.28
|
Nguồn:
Tác giả tổng hợp từ kết quả phần mềm Evolver 5.7
Dữ liệu bảng trên cho chúng ta một kết
quả ban đầu đáng ghi nhận về phương pháp GAs ở khía cạnh đối phó với những sự
sụt giảm của thị trường chứng khoán. Câu hỏi được đặt ra ở đây là phải chăng GAs
đã khái quát được những tín hiệu tăng, giảm giá của thị trường, do đó với những
giai đoạn sụt giảm, GAs vẫn có thể thích nghi tốt và cho một kết quả khả quan?
Chúng ta không thể vội kết luận như vậy bởi lẽ phạm vi nghiên cứu chỉ là những
cổ phiếu có mức vốn hóa lớn, thời gian nghiên cứu cũng chỉ sử dụng dữ liệu của
năm 2010 và 2011, chưa khái quát được hết sự biến động qua các giai đoạn khác
nhau. Sự hạn chế về phạm vi nghiên cứu không thể cho chúng ta một kết luận chủ
quan, nhưng nếu chỉ nhìn vào những kết quả ở trên, rõ ràng GAs là một công cụ
mạnh để giảm thiểu mức lỗ của nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường ở những
giai đoạn giá cổ phiếu giảm, thậm chí là giảm mạnh. Đặc biệt, trong một số
trường hợp, trong suốt thời gian 2 tháng đầu tư theo kết quả các giá trị tới
hạn, GAs không cho chúng ta bất kì tín hiệu mua vào nào (GĐ1: FPT; GĐ2: FPT, KDC;
GĐ3: BVH; GĐ4: FPT, KDC), điều này cho thấy triển vọng GAs có thể được áp dụng
là một công cụ dự báo xu hướng thị trường.
Với thử nghiệm GAs cho chỉ số VN-index,
GAs cũng cho kết quả thuyết phục. Khi so sánh với mô hình GARCH(1,1), hiệu quả
của GAs rõ ràng là thuyết phục hơn rất nhiều. Điều này càng cho chúng ta thấy
rõ hơn khả năng áp dụng GAs trong những thời kì ảm đảm của thị trường chứng
khoán. Trên thực thế, nhiều quỹ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong đó có VF1 đã
ứng dụng GAs trong việc cắt lỗ. Đây cũng là một trong những hướng đi có thể tập
trung để phát triển trong tương lai.
Quy
tắc giao dịch biến đổi theo thời gian và cần sự linh hoạt khi sử dụng
Trong kinh tế, nhất là trong lĩnh vực
đầu tư, không có yếu tố nào là bất biến. Trên thị trường chứng khoán, các biến
số cả về vi mô và vĩ mô luôn luộn vận động và thay đổi không ngừng. Như những
kết quả đã được trình bày ở phần trên, với mỗi cổ phiếu khác nhau, có sự khác
biệt giữa điều kiện và các giá trị tới hạn. Đối với cùng một loại cổ phiếu, với
những giai đoạn khác nhau cũng luôn có sự khác biệt giữa những giá trị này.
Điều này đặt ra yêu cầu phải thật linh hoạt khi sử dụng GAs, phải có sự điều
chỉnh kịp thời theo những biến động của thị trường và kết hợp GAs với các công
cụ phân tích khác để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn.
Xét trên một khía cạnh khác, vì bản thân
thuật toán di truyền mô phỏng sự tiến hóa của thế giới tự nhiên, phản ánh những
quy luật của thế giới tự nhiên. Mà thế giới tự nhiên luôn tiến hóa không ngừng
để thích nghi, do đó các kết quả khi ứng dụng thuật toán di truyền cũng luôn
thay đổi theo thời gian. Ở mỗi thời điểm nhất định, có những kiểu gen thích
nghi nhất định, cũng như trên TTCK ở mỗi thời điểm có một quy tắc giao dịch
nhất định mang lại TSSL vượt trội nhất.
Không
có một công cụ đầu tư hoàn hảo cho tất cả nhà đầu tư
Trường
hợp GAs không hiệu quả
|
Giai
đoạn
|
1
|
2
|
3
|
||||
|
Cổ
phiếu
|
PNJ
|
VNM
|
MSN
|
BVH
|
FPT
|
VNM
|
PNJ
|
|
GAs
|
1.59
|
4.26
|
23.06
|
9.62
|
7.02
|
9.25
|
3.81
|
|
TSSL CP
|
7.05
|
11.26
|
23.17
|
10.22
|
15.96
|
15.74
|
15.74
|
|
Nắm giữ
|
4
|
14
|
10
|
17
|
6
|
30
|
4
|
Dù những phân tích và thống kê ở trên
đều cho thấy GAs là một công cụ đầy triển vọng và có khả năng ứng dụng cao
nhưng xét trên quan điểm tương đối, không có công cụ nào là tối ưu, có khả năng
mang lại TSSL vượt trội trong tất cả mọi trường hợp. Như tổng hợp trong bảng
trên, trong một số trường hợp, nhất là khi giá cổ phiếu tăng mạnh, GAs tỏ ra
kém hiệu quả khi đạt TSSL kém hơn so với chiến lược mua và nắm giữ. Mỗi công cụ
sẽ là công cụ tốt nhất nếu nhà đầu tư biết sử dụng một cách tốt nhất công cụ
đó. Để sử dụng hiệu quả GAs, không chỉ cần nắm rõ về thuật toán, nền tảng lập
trình mà cần phải có những kiến thức nhất định về TTCK. Làm thế nào để sử dụng GAs
hiệu quả nhất, đó vẫn là câu hỏi làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu.
Những
hạn chế khi ứng dụng thuật toán di truyền
Trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng
thuật toán di truyền trong việc xác định những quy tắc giao dịch hiệu quả,
thuật toán di truyền tồn tại những hạn chế sau đây:
§ Thuật toán di truyền là thuật toán tối
ưu hóa ngẫu nhiên, do đó kết quả cuối cùng là không xác định. Với mỗi quá trình
tối ưu khác nhau, có thể có những kết quả khác nhau. Điều này khiến việc sử
dụng GAs mang tính cảm quan cá nhân của người sử dụng, không có mẫu hình tối ưu
chung trong tất cả các trường hợp.
§ GAs không hiệu quả trong những không
gian tìm kiếm rộng và kết quả tối ưu phụ thuộc vào giá trị xác đinh ban đầu.
Điều này đòi hỏi người sử dụng phải thiết kế dữ liệu một cách hợp lí. Trong bài
nghiên cứu, việc chuẩn hóa dữ liệu cũng nhằm mục đích này. Các giá trị ban đầu
của các chỉ số được cho là 0.5, là giá trị nằm giữa đoạn [0,1] nhằm mục đích tối
ưu thời gian tìm kiếm, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, giá trị ngưỡng không
thay đổi, vẫn ở mức 0.5 khiến kết quả tối ưu chưa thật thuyết phục.
§ Ứng dụng GAs cần một kiến thức nền về
lập trình và thuật toán. Vì là một thuật toán hàn lâm nên dù đã được thiết kế
một cách đơn giản nhất để có thể dễ dàng ứng dụng trong lĩnh vực tài chính, tuy
nhiên với nhiều nhà đầu tư, phương pháp này còn quá phức tạp. Bài nghiên cứu đã
đơn giản hóa tối đa thuật toán và cấu trúc lập trình macro với mục đích để
người sử dụng kết quả nghiên cứu có thể nắm được những ý tưởng cơ bản nhất, do
đó phần nào làm giảm tính hiệu quả của GAs. Những rào cản về kỹ thuật áp dụng
cũng là một trong những nguyên nhân khiến GAs chưa được ứng dụng một cách rộng
rãi. Nhưng phải chăng đã đến lúc thay đổi tư duy phân tích và định lượng của
đại bộ phận nhà đầu tư Việt Nam, phải chăng đã đến lúc ứng dụng những công cụ
định lượng phức tạp hơn trong quá trình ra quyết định đầu tư?
Những hạn chế trên đây cũng sẽ là những
câu hỏi nghiên cứu để phát triển đề tài trong thời gian tới.









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét